GS.TS Nguyễn Thị Lang: Một nhà khoa học dành tình yêu trọn vẹn cho cây lúa
Người đăng tin: Admin Ngày đăng tin: 28/06/2019 Lượt xem: 1

Giải thưởng Trần Đại Nghĩa 2019 đã xướng tên 4 công trình nghiên cứu khoa học có tính ứng dụng cao trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội. Giá trị khoa học của những công trình đạt giải đã liên tiếp khẳng định uy tín và ý nghĩa to lớn của Giải thưởng Trần Đại Nghĩa. Dưới đây là một trong chuỗi các bài viết về các công trình đạt Giải thưởng Trần Đại Nghĩa 2019, với góc nhìn sâu hơn về những thành tựu của các nhà khoa học xin trân trọng gửi tới độc giả.

GS. TS Nguyễn Thị Lang.

GS.TS Nguyễn Thị Lang, một nhà khoa học đã dành cả cuộc đời để nghiên cứu về nguồn gene và tạo giống cho cây lúa. Bà vinh dự là nhà khoa học nữ đầu tiên được trao Giải thưởng Trần Đại Nghĩa, được tổ chức tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam vào ngày 17/5/2019.

Đi tìm cây lúa “ma”

GS.TS Nguyễn Thị Lang tự nhận mình là một người nông dân, rất yêu và trăn trở về cây lúa. Nữ GS chia sẻ: “Tôi đã thấy những giống lúa ngày xưa cho cơm ăn rất ngon, sao giờ lại mất? Chính vì vậy, tôi đã đi tìm nguồn gene của lúa”. 

Bà đã cùng GS.TS Bùi Chí Bửu đi tìm cây lúa “ma”- tổ tiên của giống lúa trồng hiện nay. Theo GS Nguyễn Thị Lang, trên thế giới, hiện nay có 26 loài lúa “ma” hoang dại. Riêng ở Việt Nam có bốn quần thể gồm: Oryza officinalis, Oryza rufipogon, Oryza nivara và Oryza granulata. 

Lúa “ma” Oryza officinalis phân bố rộng từ bờ biển phía Tây Ấn Độ kéo dài đến Philippines và Borneo. Nhóm này được tìm thấy ở miền Đông Nam bộ Việt Nam. Cây lúa “ma” cao khoảng 2m, bông lúa dài khoảng 30cm, xòe. Hạt lúa rất nhỏ (4 - 5mm), râu hạt ngắn, mềm.Thời gian trổ bông quanh năm, nhưng chủ yếu từ tháng 8 - 9. Do loài này có gen kháng rầy nâu tốt nên rất có triển vọng lai tạo ra lúa kháng rầy nâu, rầy lưng trắng năng suất, chất lượng cao.

Còn lúa “ma” Oryza rufipogon được tìm thấy từ miền Bắc đến miền Nam, kể cả vùng duyên hải Trung bộ với nhiều quần thể đa dạng về di truyền. Ở Đồng bằng Sông Cửu Long thì Vườn quốc gia Tràm Chim là vùng bảo tồn in-situ các loài động thực vật quý hiếm, trong đó có lúa “ma” Oryza rufipogon. Kết quả nghiên cứu chuyên sâu loài Oryza rufipogon cho biết đây là giống lúa có nguồn gen kháng rầy nâu và rầy lưng trắng khá tốt.

Loài lúa “ma” Oryza granulata, vốn chỉ có ở Mường Tè (Lai Châu), thì hiện không còn tìm thấy trong tự nhiên nữa. Nhưng gen của loài này vẫn đang được bảo quản tại Viện Lúa Đồng bằng Sông Cửu Long. 

Từ năm 1998, GS.TS Nguyễn Thị Lang đã cùng GS.TS Bùi Chí Bửu, hai nhà khoa học chuyên sâu về lúa “ma”, dành rất nhiều công sức và tâm huyết để nghiên cứu lai tạo các giống lúa mới mà bố là lúa “ma”. Ngoài ba loài lúa “ma” tại Việt Nam, bà còn thử lai lúa “ma” ở Lào, Úc, châu Phi... với các giống lúa thơm, lúa chất lượng cao của Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam.

Viện Lúa Đồng bằng Sông Cửu Long, nhà lưới số 5, được các nhà khoa học Nhật Bản gọi vui là “bảo tàng lúa ma” của Việt Nam. Đây chính là ngôi nhà đầu tiên của lúa “ma”, do GS. TS Nguyễn Thị Lang trực tiếp chăm sóc và nghiên cứu mỗi ngày. Và bà đã có nhiều thành quả xứng đáng với tâm huyết, công sức và tri thức của một nhà khoa học nặng lòng vì cây lúa. 

Trong hơn 25 năm làm nghiên cứu, GS.TS Nguyễn Thị Lang đã lai tạo thành công hơn 73 giống lúa, trong đó có 31 giống lúa đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thông công nhận và đưa vào sản xuất tại các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, 106 giống lúa được đánh giá là triển vọng và đang trong quá trình khảo nghiệm cấp quốc gia.

Biết ơn những nhà khoa học đi trước 

“Thật ra, năm 1976, tôi học xong và nhận việc tại nhiệm sở. Tôi đã nghe tiếng của các nhà khoa học lớn như GS.VS Nguyễn Văn Hiệu-nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam. Trong một hội thảo, tôi còn nhớ GS.VS Nguyễn Văn Hiệu nói với các nhà khoa học miền Nam rằng: Phải làm sao đưa được giống lúa chịu phèn cho Đồng bằng Sông Cửu Long”, GS Nguyễn Thị Lang nhớ lại.

Chính việc kề thừa tính đột phá của các nhà khoa học đi trước đã góp phần bồi đắp tinh thần nghiên cứu không mệt mỏi cho bà. “Chúng tôi đã kế thừa tinh thần làm khoa học liên ngành của các nhà khoa học đi trước. Đặc biệt những công trình thủy lợi đã cải tạo phèn cho Đồng bằng Sông Cửu Long. Thành thử ra, chính đó là những ý tưởng cho tôi nghiên cứu, dù 5 năm hay 10 năm sau mới có kết quả. Những nhà khoa học lớn như GS. VS Nguyễn Văn Hiệu đã truyền lửa cho các thế hệ nối tiếp thông qua ý tưởng. Và tôi biết ơn ông vì điều đó”, GS. TS Nguyễn Thị Lang nói.

Là một nhà khoa học nữ, GS Lang đặc biệt yêu thích việc tạo giống lúa. Bà cũng thấy rõ một vấn đề là: Quốc gia phải có nguồn gene về lúa. Hiện GS Lang đang lưu giữ khoảng 2000 nguồn giống để tiếp tục nghiên cứu. 

Sau khi tạo ra các giống mới, bà tìm cách ứng dụng. Có khi, bà phải đi vận động từng địa phương cho thử giống mới của mình. “Tôi đưa cho họ ứng dụng 10 giống, cuối cùng họ chọn được 1 đến 2 giống thích hợp cho địa phương. Có khi mình cho dân, không lấy tiền. Thậm chí, tôi cùng với nông dân thực hành gieo giống, chăm sóc lúa trên ruộng”, bà nói.

Như ở Vĩnh Long- quê hương của GS Trần Đại Nghĩa, cả lãnh đạo và người dân địa phương đã nhiệt tình ủng hộ việc GS Lang triển khai ứng dụng các giống lúa. Bạc Liêu, một địa phương có nhiều vùng đất nhiễm mặn, lãnh đạo địa phương đã chủ động đặt hàng GS Lang nguồn giống thích nghi với đất mặn để người dân canh tác. 

Một giáo sư lội đồng cùng dân. Một giáo sư thành danh với việc bảo tồn gene quý, lai tạo giống lúa mới cho vựa lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long. Một giáo sư khi bước lên bục danh dự để nhận Giải thưởng Trần Đại Nghĩa đã khiêm tốn nói về mình, trích dẫn câu nói của Đại văn hào Tagore rất ý nghĩa: “Chúng ta biết ơn ngọn đèn cho chúng ta ánh sáng. Chúng ta cũng phải biết ơn giá chân đèn đã âm thầm đứng trong bóng tối để mang ngọn đèn tỏa sáng khắp nơi nơi”. Với GS. TS Nguyễn Thị Lang, bà biết ơn những nhà khoa học, hàng triệu người nông dân đã làm giá chân đèn đứng trong bóng tối.

Dù rằng, lợi ích mấu chốt của công trình mà bà đạt giải là mang lại cho nông dân. Ở đồng bằng sông Cửu Long, lúa là cây lương thực số 1. Vì thế, bà luôn muốn “lao” vào triển khai ứng dụng, từ giống lúa 6 tháng, 4 tháng, rồi 3 tháng. Giống mới càng ngắn ngày thì làm càng rút ngắn thời gian lao động của nông dân, cũng như năng suất được tăng cao. Hiện, bà đang hợp tác với đối tác Nhật Bản để nghiên cứu sâu hơn về giống lúa “ma”. Và đó là cuộc trường chinh đúng nghĩa của một nhà khoa học gốc Bến Tre, đã dành một tình yêu đặc biệt cho cây lúa.

Tóm lược tiểu sử GS.TS Nguyễn Thị Lang

- GS.TS Nguyễn Thị Lang sinh năm 1957, tại Bến Tre.
- Năm 1979, sau khi tốt nghiệp ngành sinh học tại Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM, bà trở về công tác tại Sở Khoa học tỉnh Bến Tre.
- Năm 1994, bà bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ chuyên ngành Di truyền chọn giống với luận án: “Nghiên cứu di truyền tính trạng sinh lý ưu thế lai trên lúa”.
- Từ năm 2006-2012, bà chuyển công tác đến Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long ở cương vị Trưởng Bộ môn Di truyền và chọn giống.
- TS Nguyễn Thị Lang, hiện là nghiên cứu viên cao cấp của Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, Trưởng Bộ môn Công nghệ sinh học Trường Đại học Cửu Long. 
- Công trình "Nghiên cứu chọn tạo giống lúa phục vụ Đồng bằng sông Cửu Long" của GS.TS Nguyễn Thị Lang, được vinh danh trong Giải thưởng Trần Đại Nghĩa 2019.

Bài và Ảnh: Trần Thị Kiều Anh (Trung tâm Thông tin- Tư liệu)

(Theo: Trang thông tin điện tử Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam – Ngày đưa tin: 13/6/2019)

Chuyên mục, tin tức liên quan:
 

Cơ sở dữ liệu KH&CN Cơ sở dữ liệu KH&CN

 

Liên hệ Liên hệ

TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

49 Thế Lữ, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

(+84) 236  3898 133 - Fax: (+84) 236 3898 133

ttttkhcndanang@gmail.com; ttttkhcn@danang.gov.vn

Kết nối với Trung tâm Kết nối với Trung tâm

Thống kê truy cập Thống kê truy cập

0 0 9 9 6 9 5 0

Nội dung HTML Nội dung HTML